LỜI NGỎ
 
Tôi sinh ra và lớn lên tại đây, làng Công Hinh quận Blao tỉnh Đồng Nai Thượng (Nay là Bảo Lộc –Lâm Đồng) nơi ngôi trường thân thương mà các anh chị luôn nhắc nhớ, tôi trở thành thần dân và gắn  bó với nơi này tròm trèm 40 năm, vì thế  ký ức trong tôi lưu giữ rất nhiều.
 
Trong thời còn đang làm việc chính tôi đã chứng kiến một anh sinh viên NLM vào thăm lưu xá A khi đứng trước tam cấp lên lầu bỗng khóc nức nở vì nhìn thấy một vết vở ở bậc bước, hay thấy vợ thầy Nguyễn Phúc Chân ôm cánh của sổ “nhà trắng” khóc sướt mướt  trong lúc thầy Chân nghẹn ngào nói với tôi  “ bà ấy khóc vì nhớ khi ở nơi đây bà sinh  cháu gái út đấy” hoặc anh  Đặng Văn Nước trong lần vội vã ghé thăm nhà ở cũ, mừng rỡ reo to “ Đây này  cái chỗ tôi đắp xi măng để dẫn cái xe lambretta cà tàng của tôi còn đây nè !.. Cho thấy rằng, chúng ta một lần trở lại trường xưa ít nhiều, đều kiếm tìm một dấu tích của riêng mình. Những dấu tích ấy vô cùng trân quí.
 
Chúng ta đã xa ngôi trường lâu rồi, thời gian đang xóa nhòa những dấu tích,  thêm vào đó sự chuyển biến đổi thay cho phù hợp với đà cuộc sống…để rồi từ đổi thay  này đến đổi thay khác. Nhưng với chúng ta khi nghĩ, khi nhớ về trường như chừng ký ức vẫn đọng đầy, bằng chứng là biết bao tâm tình được thể hiện bằng thơ văn bằng nhạc,  họa…từ báo viết, tập san, báo mạng…vẫn chưa đủ, để phải có những cuộc gặp gỡ, họp mặt hàn huyên mới thỏa chí.. Người viết bài này không thể là ngoại lệ được  nhờ thuận lợi được gần gũi nhiều, nên cố nhớ cố ghi lại những dấu tích sau như một khởi động, gây men rất mong được anh chị em hưởng ứng bằng khả năng mà  anh chị em có được: bằng hình ảnh, tư liệu, bài viết và cả  việc đề đặt câu hỏi, gợi nhớ cho người nào đó biết được lên tiếng trả lời.
 
Ở thế hệ chúng ta, ăn ở, học tập làm việc nơi ấy nào được bao nhiêu. Vỏn vẹn có hơn 12 năm, cái tên trường thân thương ngày nào không còn gắn trên chiếc cổng nữa! Không phải tự nó thay tên đổi họ mà chính chúng ta ?  Những thần dân cuồng tín, quá ích kỷ,  mỗi người đã thẻo đi một miếng đem theo mình đến cùng trời cuối đất, cả tinh cầu này.
“Nhớ Để Viết, Viết Để Nhớ” mong các bạn có tâm cảm như tôi về ngôi trường đầy thương mến ấy, bởi:
 
Ngày xưa ta sống trong lòng nó,
Bây giờ nó sống trong lòng ta”
 
ĐÔI NÉT VỀ TRƯỜNG
 
Năm 1930 Nhà Khảo Cứu Đông Dương, thành lập tại làng Công Hinh quận Blao nay là Bảo Lộc tỉnh Lâm Đồng, một trung tâm thực nghiệm Nông Học, đó là cơ sở đầu tiên mà người dân thời ấy quen gọi là Sở Mới.
 
Sau năm 1955 trở thành trường Quốc Gia Nông Lâm Mục Blao thuộc Bộ Cải Cách Điền Địa và Canh Nông.
Diện tích trường gồm các khu Công Sở, đồng cỏ, vườn trà cà phê khu cây ăn trái, vườn ương và khu rừng nguyên thủy có diện tích gần 600 mẫu. Trường nằm bên trái dọc quốc lộ 20 theo hướng Sài Gòn Đà Lạt,. Có thể nói đây là cơ ngơi một ngôi trường lớn nhất nước thời đó.
 
Trưởng Quốc gia NLM Blao đào tạo 2 cấp học Cao Đẳng và Trung Đẳng các ngành Canh Nông, Thủy Lâm và Mục Súc. Từ năm 1955 đến năm 1963. Đến 1963 thì trường đổi tên thành Trung Học Nông Lâm Súc Bảo Lộc trực thuộc Nha Học Vụ Nông Lâm Súc và Bộ Giáo Dục , qua các  Nghị Định sau:
 
Nghị Định số 136-BCTNT/NĐ/HC/2 ngày 26-3-62 của Bộ Cải Cách Nông Thôn chuyển giao nhiệm vụ và cơ sở kỹ thuật Canh Nông và các học đường thuộc Bộ Quốc Gia Giáo Dục
Nghị Định số 1377-GD/PC/NĐ ngày 30-9-63 của Bộ Quốc Gia Giáo Dục tổ chức Nha Học Vụ Nông Lâm Súc
Nghị Định số 1185- GD/PC/NĐ ngày 24-8-63 của Bộ Quốc Gia Giáo Dục cải tổ trường QG Nông Lâm Mục Blao thành trường Trung Học Nông Lâm Súc Bảo Lộc.
 
Chương trình học gồm 2 phần: Phổ thông và chuyên môn, Học sinh tốt nghiệp văn bằng tú tài 2 NLS có thể theo đuổi chương trình Kỹ Sư 4  năm, hay Kiểm sự 1 năm hoặc chuyển qua  một ngành mới tại bất cứ một trường Đại Học nào,
 
Học sinh theo học trường TH Nông Lâm Súc Bảo Lộc phải qua kỳ thi tuyển, năm đầu tiên tuyển vào lớp đệ ngũ, đệ tứ và đệ tam. Các năm sau chỉ còn tuyển vào đệ ngũ và đệ tam mà thôi. Ở đệ nhị cấp, mỗi lóp gồm có 3 ngành : Canh Nông, Thủy Lâm và Mục Súc.. niên khóa 1970 – 1971 mở thêm ngành Công Thôn.
 
Học sinh toàn nước đều được nộp đơn dự thi tuyển. khi đang theo học,  học viên được bầu ra một ban đại diện để cùng với nhà trường lo đời sống và hoạt động của học viên.
 
Có thể nói vào thời gian đó, trường TH Nông Lâm Súc Bảo Lộc là một trường có tầm vóc, cơ sở đầy đủ rộng và đẹp nhất vùng Đông Nam Á.
        
Trường có hệ thống nhà ở cho hiệu trưởng, giáo sư, nhân viên với những chuẫn mực khác nhau.
 
Hệ thống lưu xá cho học sinh nội trú gồm  4 nhà trệt ( A,B,C,D )  và một nhà 2 tâng ( lưu xá E ). Có một nhà ăn ( Câu Lạc Bộ) phục vụ ăn uống cho học viên, qua ban Đại Diện  học viên được quyền chọn khẩu phần ăn và kiểm soát hoạt động của nhà bếp.
 
Trường có đầy đủ cơ sở để sinh hoạt về mọi lĩnh vực trong một nhà nhà trường tiên tiến bấy giờ:
 
- Thể thao gồm sân đá banh, bóng chuyền, bóng rổ, quần vợt và võ đường…
- Văn nghệ với Đại Thính Đường  là nơi chiêu phim, có sân khâu với sức chứa trên 600 người.
- Có 3 giảng đường, đầy đủ các phòng thí nghiệm của 3 ngành học Nông, Lâm, Súc và hệ phổ thông như Vật lý, Hóa học, phòng Thính Thị và  Gia chánh…
- Cơ sở thực nghiệm canh nông có vườn trà, cà phê, vườn cây ăn trái, vườn tiêu bản, vườn ươm, vườn rau hoa… Thủy lâm có rừng cây sưu tập, rừng nguyên sinh quanh trường. Mục súc có chuồng trại heo, bò, gà, thỏ.. ngoài ra còn lừa, ngựa và có cả trâu Ấn Độ… Song song đó hệ phục vụ hoạt động gồm cơ xưởng với các máy công cụ phụ vụ nông nghiệp cũng như xây dựng.
   
Riêng về đời sống của học viên  được hỗ trợ học bổng gồm toàn phần hoặc bán phần, dịp hè, tết cũng được thanh toán tiền đi lại.
   
Qua quá trình học. Học viên đậu bằng Trung học đệ nhất cấp NLS có thể tham gia lớp Huấn Sự là chuyên viên làm việc ở cấp quận. Nếu đậu tú tài 2 NLS hoặc theo học chương trình Kiểm sự, Cao Đẳng để trở về phục vụ Bộ Canh Nông  ở các Ty Nông Ngiệp, hạt Thủy Lâm…hoặc theo học các khóa Sư Phạm về giảng dạy các trường TH Nông Lâm Súc.
 
Điều đó cho ta thấy rằng được vinh dự làm học viên NLS vì từ ngôi trường này con đường sự nghiệp của học viên được rộng mở.
 
Sau 20 năm hoạt động với vai trò của trường:
 
 - Từ năm 1955- 1963 có tên gọi trường Quốc Gia Nông Lâm Mục Blao đào tạo được 8 khóa kiểm sự và 4 khóa Cao Đẳng Nâng Lâm Súc.
 - Từ 1963 có tên gọi là Trung Học Nông Lâm Súc Bảo Lộc qua 12 năm  đã tổ chức 12 lần tuyển sinh, 11 kỳ thi TH Đệ Nhất Cấp và 9 kỳ thi Tú tài 2 ngành NLS
   Đến tháng 12- năm 1976 trường mới chính thưc đổi tên,. Nhưng trên thực tế đã ngưng chương trình giảng dạy NLS từ 28-3-1975
 
*** Đặc biệt những ai đến giảng dạy làm việc hay học tập nơi đây đều có một tình cảm gắn bó thật sâu sắc với trường. Sau năm 1975 thần dân NLS Bảo Lộc giờ đây gần như có mặt trên toàn thế giới. Họ luôn tìm đến nhau, lập hội chia vui xẻ buồn cùng nhau và với ngôi trường thân thương này ai ai cũng mong có một lần trở lại
 
GIẢNG ĐƯỜNG       
 
Chúng ta quen gọi nôm na là nhà học hay văn hoa hơn là giảng đường.
Trường có 3 nhà học nằm chênh nhau cùng nhìn ra quốc lộ 20 mang  tên A, B, C  Lối kiến trúc như nhau với nền nhà hình chữ U,  mái lợp fibro cement, tường  gạch , đặc biệt hai đầu hồi xây đá kiểu, phía trước là một mái bê tông cốt thép che trọn phần hành lang đi lại. Cửa kính, riêng cửa sổ mặt trước là cửa lật nhỏ, mặt sau là cửa chống nguyên cánh. Đây là lối kiến trúc miền núi xứ lạnh.
 
Mỗi nhà gồm 8 phòng chính và 2 phòng vệ sinh. Riêng nhà C chỉ có 7 phòng vì có một phòng rộng gấp đôi  và không thể nào chúng ta quên tên là C6. Thời  Nông Lâm Súc, ba nhà được phân như sau: Nhà A  ban Canh Nông, Nhà B  ban Thủy Lâm, Nhà C ban Mục Súc.
 
1/ Nhà A: phòng 1  chưng bày tiêu bản vật phẩm Canh nông.
                  Phòng 2  Thí nghiệm Canh Nông.
                  Phòng 3,4,5,6 phòng học.
                  Phòng 7  sinh hoạt gia đình.
                  Phòng 8 phòng thính thị.
 
2/ Nhà B: Phòng 1 chưng bày tiêu bản ,vật phẩm Thủy Lâm ( chú ý nhất là những lóng gỗ to gồm:  Cẩm lai ,gõ đỏ ,Trắc, Căm xe.....)
                 Phòng 2 kho máy móc công cụ chung của các ban CN,TL,MS..
                 Phòng 3,4,5 phòng học.
                 phòng 6,7 thí nghiệm  hóa học.
                 Phòng 8 thí nghiệm Vật Lý.
 
3/ Nhà C: Phòng 1 Tiêu bản vật Phẩm Mục Súc. ( gồm các bộ xương ngựa, bộ xương heo, và các lọ đựng mẫu vật chú ý nhất là một phôi quái thai heo có 2 đầu..)
                 Phòng 2 thí nghiệm Mục Súc.
                 Phòng 3,4,5,6,7 phòng học. Riêng phòng 6 là phòng rộng gấp đôi mang tên là phòng C6.
 
Nói riêng về Phòng C6: Phòng này thường được dùng để học ghép 2 lớp dành cho những môn học chung, hình như từ năm 1968 phòng này được dành riêng cho lớp 10 Thủy lâm, tại đây, hằng năm gần hè ban Thủy Lâm thường tổ chức "Cúng Lớp ".Không biết lệ cúng nay có từ lúc nào, do ai chủ trương . Dự lễ cúng là học viên cùng các giáo sư  Thủy Lâm. Khách mời là  ban Giám đốc  và đại diện các ban.
 
Buổi cúng  bắt đầu từ 18 giờ thường vào chiều thứ bảy, phòng được thiết trí gồm bàn thờ  đặt ngay tại bảng đen với đầy đủ đèn, nhang hoa quả ..phẩm vật tiến cúng gồm đầu heo, xôi, rượu., gạo muối, giấy vàng bạc..Quanh theo phòng được xếp bàn để khi vào tiệc thì thầy trò có thể  nhìn thấy nhau  để trò chuyện nhau được thân mật hơn..
     
Ngay năm đầu , 1970  từ Tây Ninh , tôi là khách mời, nhưng các năm sau các bạn thấy tôi rành việc chùa chiền nên giao cho tôi làm chủ lễ.
  
Vào lễ ,tôi là người niệm hương trước bàn thờ , đến các giáo sư và tập thể học viên,  Tôi nhớ bài khẩn của tôi  đại ý như sau: "Hôm nay ngày..tại phòng C6 trường Trung học Nông Lâm Súc Bảo lộc, thầy trò ban Thủy lâm bằng tất cả lòng thành sắm sửa lễ vật hương hoa dâng cúng tưởng nhớ công lao các bậc tiền bối Thủy lâm, tưởng nhớ quí thầy cô NLS. Tưởng nhớ  chư hương linh học viên Thủy lâm đã quá vãng. Xin phù hộ độ trì cho chúng tôi trên đường học vấn và phục vụ ngành nghề. chúng tôi xin hứa luôn gìn giữ  và phát huy những gì đã học - luôn tưởng nhớ lời dạy và uy danh của các vị, sẽ là một thành viên NLS mẫu mực sẽ là người kế thừa gìn giữ núi rừng tươi đẹp của Việt Nam..."
    
Sau khi lễ xong, tất cả  tập trung ra trước phòng chụp ảnh kỷ niệm, hàn huyên sau đó là nhập tiệc. Ai đã từng dự một tiệc như thế thì mới thấy thấm thía tình cảm thầy trò, tình bè bạn TL, tình NLS. Trong không khí khói hương những tâm tình, những trao gửi kẻ ở người đi như có một cái gì thiêng liêng trân quí.
  
Trở lại vấn đề, tìm hiểu lý do tại sao lại có buổi lễ này thì được biết  về lớp Thủy lâm thường là Nam sinh  nên việc gì nêu ra thấy hợp lý là anh em đồng tình và làm với tinh thần rất cao, việc cúng hằng năm theo tìm hiểu thì được hình thành bởi các ý sau:
 
1- Theo ghi nhận thì từ ngày có lớp TL bất kể NLM hay NLS thì dường như năm nào cũng có một anh quá vãng ( vì lính tráng ,vì tai nạn,vì bệnh hoạn..)việc cúng kiến hàm chứa giá trị tâm linh mong sao không xảy ra việc mất mát nữa.
 
2- Mỗi năm có một số học viên TL sẽ rời trường. Đó là các bạn  thi xong Tú tài 2  sẽ rời  trường đề có thể học đại học, cao đẳng  con số này không bao nhiêu  phần đông thì phải khoát chinh y, nên việc gặp gỡ thầy cô, bạn bè coi như tiệc giã từ.  Trách nhiệm tổ chức là lớp 12 của năm  đó, việc nấu nướng thường là  các tay đầu bếp nam sinh và  còn được nhờ các bạn gái  ban canh nông, mục súc giúp sức. 
       
Khi vào tiệc, trưởng lớp ngỏ lời cảm ơn nhà trường, thầy cô..cùng xin lỗi những sai phạm đã xảy ra trong thời gian học, sau đó là lời hứa gìn giữ uy danh của NLS Bảo lộc, cùng lời nhắn nhủ với bạn bè lớp dưới...cuối cùng là tiệc có uống rượu. Đây là một phá lệ bởi qui định của trường không được uống rượu, nhất là lại uống rượu trong phòng học. Nhưng vỉ cúng giỗ lại thêm việc chia tay nên nhà trường cũng lơ đi.
 
Trở lại truyền thuyết Thủy lâm mỗi năm mất một người ? Nó xảy ra từ thời Nông Lâm Mục.  Không rỏ các lớp trước  thế nào, riêng lớp tôi ( TL 63) khi đang học Cao Đẳng Sư Phạm tại  Sài Gòn năm 1968 thì Huỳnh Biên mất vì ung thư , tiếp đó là Trần Minh Hồng mất vì tại nạn xe cộ, rồi phải kể đến Trần văn Bưu CN, Văn Xuân Trường MS.
 
Việc cúng  đó, thầy Nguyễn văn Khuy hiệu trưởng, thầy Phan bá Sáu giám học và cả  thầy Mai bách Huyên cũng tỏ ý  không đồng tình..trong lúc một số người khác cho là phòng C6 dành cho lớp Thủy Lâm bấy lâu nay bị cái  "huông "< một sự việc thường xảy ra  như thế>. Cho nên vào năm 1971 trường không bố trí cho lớp  TL học ở đó nữa thay vào đó là lớp 10 CT. Và chắc chúng ta không quên, vào học không bao lâu một học viên học tại phòng này đã mất, đó là Trần Hữu Thạnh 10 Công Thôn bị chết đuối ở hồ Nam Phương ngày 16 tháng 9 năm 1971. Thật là hoảng hốt, một phần vì gia đình Thạnh là chỗ thân quen với gia đình  tôi, một phần nghĩ rằng cái "huông" chết người đó vẫn còn ở phòng C6 ?. cũng nghĩ rằng, có lẽ Thủy Lâm đã thoát nạn?  Nào ngờ một thời gian ngắn sau Huỳnh Thọ 10 TL  từ trần vì tai nạn xe cộ ở đèo Bảo lộc. Lại một anh Thủy lâm. Sự việc như thế, tôi cho là một tình cờ, ngẫu nhiên nhưng ít nhiều đọng trong tâm tư bạn bè nhiều nỗi sợ.
 
Việc Thủy Lâm cúng hằng năm trở thành thông lệ để tưởng nhớ, để ghi ơn, để hứa hẹn , để tâm tình để giã biệt nhau....và cũng để cầu mong sao trong năm học không còn cảnh anh em vĩnh viễn ra đi.
 
Đặc biệt các giảng đường trên được trang bị ghế cá nhân có tì tay rộng thành bàn viết, chất liệu là gỗ sồi  được nhập từ Mỹ. Loại này chỉ dành cho học viên  chính thức, nhà trường còn dành cho con của gia đình công chức thuộc ngành theo học gọi là học viên bàng thính thì họ phải đóng một ghế giống như mẫu để ngồi học.
 
Hệ thống giảng đường  là như thế, nhưng đến 1971 do nhu cầu dành lớp cho học viên thuộc cấp 3 vì có thêm ban Công Thôn cùng lúc phải tiếp nhận nhiều học sinh ở các trường Tiểu học Cộng đồng, nên nhà trường quyết định dùng tầng trệt của cư xá E bằng cách phá vách ngăn giữa 2 phòng ngủ liền kề tạo thành phòng học, như vậy là có thêm 8 phòng học nữa dành cho học sinh cấp 2 .
 
LƯU XÁ
         
Trường TH Nông Lâm Súc Bảo lộc chúng ta  là một trường nội trú hệ thống lưu xá gồm 5 cái với 2 dạng kiến trúc gồm các nhà  A,B,C,D thuộc nhà trệt và  nhà E là nhà 2 tầng. Dáng vóc hài hòa với các giảng đường, câu lạc bộ được gọi là xây dựng theo kiến trúc  xú lạnh, miền núi.
 
Với hình dạng khá lạ thời ấy, câu trúc gồm tường gạch phối hợp với tường đá kiểu, nền gạch bông, trần trét vữa, mái lợp Fibrocement. Rỏ nét nhất là nhiều cửa sổ kính các cửa đều dùng gỗ Sao.. Việc xây dựng khá kiên cố, trang thiết bị phải nói  khá hiện đại vào thời đó, như phòng tắm nhà vệ sinh với Lavabo, bồn câu, vòi tắm búp sen và hệ thống nước máy, hệ thống chiếu sáng, Phòng ngủ trang bị giường sắt  2 tầng, nệm, tủ quần áo, bàn ghế cá nhân..
 
A – Lưu Xá Trệt : Phần xây dựng chính  rộng 12 x 30 mét,.
 
Câu trúc  gồm 12 phòng ngủ ở tầng trệt rộng 4x5m và 1 phòng ở tầng lầu . Phòng ở lầu  dành cho ban phụ trách lưu xá , phía trước  là phòng dành cho sinh hoạt, bên ngoài là một khoảng sân thượng.
 
Phần dưới ở tầng trệt , giữa là một sảnh rộng 6 x 6 mét gồm 2 cửa ra vào thường đặt bàn giám thị Lưu xá làm việc ở đây., cũng là nơi tiếp khách đến thăm cho học viên ở lưu xá ( không tiếp khách trong phòng).  Giữa 2 dãy phòng là hành lang rộng 2 mét, đầu hành lang hai phía là phòng kho chứa các vật dụng cho lưu xá.
 
Qua hành lang, đối xứng với sảnh trước là hệ thống phòng tắm và phòng vệ sinh.
 
Mỗi phòng lúc ấy chỉ chứa 2 giừơng tầng dành cho 4 người ở. Cho ta thấy rằng làm một sinh viên, học viên  tại trường lúc đó có một điều kiện sống quá tốt phải không?
 
Các Lưu xá loại này gồm 3 nhà A,B,C nằm trên đường “hoàng mai “ từ cột cờ đến nông xưởng hướng nhìn về  Câu Lạc bộ, thường dành cho nam sinh.
Nhà D được mệnh danh là “ Chiến Khu D” năm ngay đầu giao lộ Hoàng Hoa và Bằng Lăng vì được dành cho Nữ Sinh. Thời tôi vào học 1963 còn thấy có hàng rào kẽm gai chung quanh khuôn viên.
 
B – Lưu Xá E có thể đây là công trình nhà đúc có tầng đầu tiên ở BLao, vì thời ấy  nhà có tầng được gọi là là nhà lầu chỉ làm bằng gỗ hay nhà cao cẳng mà thôi, mãi đến năm 1960 mới có dãy phố lầu ở chợ mới Bảo lộc  trên đường Cách mạng, cũng như nhà văn phòng  tòa hành chánh tỉnh .
 
Diện tích xây dựng Lưu xá E  là rộng 12 x 50 mét gồm tầng trệt 18 phòng , tầng lầu có 20 phòng ngủ , phòng có kích thước 4 x 5 met, giữa nhà  tầng trệt là một phòng chung rộng 8 x 8 mett giữa 2 dãy phòng là hành lang rộng 2 met , hai đầu là hai cầu thang dẫn lên tầng lầu và dẫn vào hai khu vệ sinh gồm 3 tầng dùng chung cho 2 tầng. với các thiết bị như ở các lưu xá A,B,C,D
 
Hệ thống cửa gồm hai cửa phụ 2 dầu nhà,  và một cửa rộng ngay sảnh giữa, cửa sổ 2 cánh lắp kính sơn màu trắng mờ,  làm sáng phòng nhờ những khung kính bên trên
Việc quản lý Lưu xá thuộc ban Quản Đốc Lưu xá, năm 1969 -1970 do thầy Trần Đăng Thảo Phụ trách, mỗi nhà có một giám thị coi sóc sinh hoạt cùng một ban tự quản do học viên trong lưu xá bầu ra, tương tự như ở giảng đường, Mỗi nhà ngủ  có một công nhân lo công tác vệ sinh của lưu xá.
 
Các lưu xá trên hiện nay vẫn còn vẫn được dùng cho học sinh nội trú, dù có thay  mái Fibro bằng tôn kẽm, và hệ thống cửa.
Từ xa nhìn dáng vẻ không mấy thay đổi vẫn còn có thể sử dụng lâu dài.
                         
CÂU LẠC BỘ (Nhà Ăn – Nhà Bàn)
 
Sau năm 1980 nó mới hiện nguyên hình ở một vị trí bắt mắt nhất, đồ sộ và uy nghi. Thiết nghĩ rằng nếu anh chị em chúng ta có dịp trở lại khung trời này .tấm lòng thư thảng ngăm nhìn nó cũng sẽ tự hào rằng có một thời nó đã phục vụ cho mình,Có một thời mình ở trong nó. Như riêng tôi dù là một thần dân sống dài nơi đây mà cái lúc vàng son của nó, các bạn được hưởng còn tôi chỉ được đứng nhìn, sao thời ấy nghiêm nhặt thế.
 
Sau một trận bóng mồ hôi nhễ nhại, đất bùn bê bết các bạn chạy vào lưu xá tắm bằng vòi nước búp sen , tôi thì không được vào. Cũng như  các bạn sáng sáng lãnh bánh mì trước cửa, buổi trưa buổi chiều cầm khay inox, ngồi ở những chiếc bàn nhôm  ở câu lạc bộ, còn tôi xem như đó là vùng xa lạ, bởi là dân ngoại trú. Tôi chắc các bạn vô cùng tự hào vì được học, được sống, đươc ăn trong những cơ sở của cơ ngơi mang tầm cỡ Đông Nam Á lúc bây giờ.
 
Tôi muốn nói đến nó, vì sao mãi đến năm 1980 trở đi nó mới dần  hiện nguyên hình ???Nói thế có nghĩa nhìn thấy rỏ không bị một che chắn nào. Thời thần dân Nông Lâm Súc chúng ta, dù đã dùng đến nó  mà không được nó từ xa, vì từ ba lưu xá A,B,C nhìn sang bị che chắn bởi nhà cao cẳng làm võ đường Judo, từ cột cờ , văn phòng nhìn xuống bị che chắn bởi các nhà cao cẳng KH1 ( nhà Tổng Giám Canh), từ hoàng hoa lộ, các giảng đường bị các nhà KH2.KH3., từ nông xưởng sân đá banh nhìn lên gặp 2 nhà sàn dài vốn là nhà ngủ của sinh viên Nông Lâm Mục., từ lưu xá D lưu xá E nhìn lại thì bị một cái nhà bếp tạm che chắn.
 
Tạm nhắc lại vị trí trong khoảng không gian thời ấy, để các bạn có thể mường tượng nhớ lại nhé. Nó nằm sau nhà cao cẳng KH2 và KH3 dựa theo đường nối từ Lưu xá A đến lưu xá E, trước mặt nó là nhà thể thao, được cách biệt là con đường rải đá   chạy trước Câu lạc bộ, nối dài ra gặp hoàng hoa lộ, tiếp bên kia đường Hoàng hoa lộ là đường dẫn đến nhà học B, phía sau CLB là sân bóng rổ, tiếp giáp với bằng lăng lộ.
 
Hình dáng thì các bạn chắc còn nhớ,và theo ảnh đính kèm. Với qui mô xây dựng là loại nhà kiên cố gồm tường xây gạch, và đá kiểu,nền láng gạch bông, mái lợp fibrocement.toàn bộ cửa lắp kính.gồm có 3 phần:
 
A/ Văn phòng : Diện tích xây dựng là 16 x5 mét gồm hai tầng .Tầng trệt,ở giữa là cửa vào rộng 6 m hông cánh phải là nhà vệ sinh, hông cánh trái là phòng nhỏ làm phòng trực. trên tầng lầu có 2 phòng nhỏ và một phòng họp lớn. là nơi làm việc và hội họp.
 
B/ phòng ăn: với diện tích 30 x 12 mét, một cửa chính thông ra tiền sảnh dưới  văn phòng ,  một cửa xuống khu phát thức ăn. Hông dọc hai bên có 4 cửa ra vào.  Ở đây đặt các bàn dài được phủ nhôm. Cho nên còn có tên là “ Nhà Bàn “
 
C/ Khu chế biến và kho thực phẩm cỡ 120 m2 và khu phát phần ăn rộng cỡ 40 m2.
Thời ta học khoảng năm 1963 có một nhà tạm dành cho các chảo cơm và bếp chế biến thức ăn. Người chủ xị các chảo cơm nổi danh thời ấy cho đến năm 1980, người bắc kỳ với dáng người vừa lé vừa lùn chắc các bạn còn nhớ ? là chú Nghi, Nguyễn văn Nghi.
 
Câu lạc bộ đến năm 1970 không còn hoạt động nữa, dù ở lưu xá còn học sinh trú ngụ. Đa số học sinh bấy giớ là dân Lâm đồng với lý do là hệ thống trường Trung Học Nông Lâm Súc đã có ở nhiều nơi, học sinh ở xa đến thì ở trọ và ăn cơm tháng ở các nhà gần trường. Trường đã giao cơ sở này cho ông Lê Đắc Bằng ở cùng việc ông quản lý và khai thác các lô trà hiện có của trường.
 
Cũng nên nhắc lại có ba sự kiện  khá ấn tượng khi dùng CLB  cho hoạt động của Nông Lâm Súc sau năm 1970 là:
 
- Lần thứ nhất: Cuối năm học 1973 có một tiệc khoản đãi khi Hội Phụ Huynh học sinh Nông lâm Súc được thành lập, tham dự có tỉnh trưởng tỉnh lâm đồng, các thân hào nhân sĩ địa phương  và các nghệ sĩ Thanh Hoài ,Tùng Lâm, Phi thoàn,  bé Phương Mai…  Đêm  đó có diễn  Đai nhạc hội chào mừng ngày thành lập hội do các nghệ sĩ trên biểu diễn tại Đại Thính Đường. Đặc biệt lần đó có giám đốc nhà máy mì tôm Khánh Phong là mạnh thường quân cho hội, nên lần phát thưởng năm đó mồi phần thưởng đều có kèm 5 gói mì tôm.
 
- Lần thứ hai: bữa cơm trưa  họp mặt lần đầu tiên của Nông Lâm Súc Bảo lộc năm 1993.
 
-Lần thứ ba: cơm trưa trong lần họp mặt kỷ niệm 60 năm thành lập trường 1955- 2015.
 
Không biết còn có dịp nào thầy trò, anh chị em học sinh NLS Bảo Lộc mình được ăm cơm ở đây nữa?
 
Nhắc lại trong dịp  thành lập Hội Phụ Huynh Học Sinh NLS Bảo Lộc,khi phái đoàn dùng cơm với trung tá tỉnh trưởng, trong đó có danh hài Thanh Hoài, khi gặp ông ăn vận complet veston, cravạt tay xách Samsonite thì trung tá nói
 
- Anh là danh hài chuyên làm cho thiên hạ cười,sao tôi nhìn anh thấy đạo mạo như là một nhà giáo vậy?
- Thưa trung tá, tôi chỉ chọc cười khi sắm tuồng diễn trên sân khấu thôi, ngoài sân khấu thì tôi cũng như mọi người
- Ở đây coi như là sân khấu  đi, đề nghị anh làm một cái gì đó cho anh em cười được không?
 
Sau một lúc suy nghĩ ông Thanh Hoài thưa rằng “Tôi đố trung tá  con gì giống con cá có mắt cá, vi cá, vẩy cá, đuôi cá, và cả thịt và xương cũng là  cá nữa. Tôi cấm trung tá không được trả lời Con Cá, đó là con gì ?
 
Cái cười vỡ òa khi trung tá bí không trả lời được. BÂY GIỜ:XIN CÁC BẠN CHO BIẾT ĐÓ LÀ CON GÌ?
 
Còn nhớ hay đã quên?
Không mang dấu ấn sâu đậm như Hoàng Hoa Lộ, không gần gũi như lưu xá, giảng đường, và  cũng không xa lạ lắm, có thể  chúng ta đã quên, cũng có thể trong ký ức bỗng nhớ, bởi vì trong tòan cảnh đầy tình cảm ấy ta sẽ thấy thiêu thiếu một cái gì đó, và rõ ràng là thiếu thật khi nói đến trung học Nông Lâm Súc Bảo Lộc.
Nó là chứng tích của thời khai sơn phá thạch, là thời thống trị của một nền văn minh khai phóng, cũng là một thời vàng son của sự nghiệp trồng người. Nó đã cùng ngàn cây nội cỏ làm nên một khung cảnh rất riêng mà không nơi nào có được. Nó có tự bao giờ chắc không còn ai biết và bây giờ nó không còn nữa.

 

Bùi Tho

Thủy Lâm 63-66

 
 
Cùng Tác Giả / Đề Tài