alt
Kim Trâm, Lan Hương Trần, Nguyệt, Mỹ Hạnh, Tâm, Đoan Trang
 
Sài Gòn tháng 6 thỉnh thoảng có mưa, nhưng khi tạnh thì vẫn thật oi bức. Tôi có cảm giác khí hậu càng nóng hơn khi vừa từ mùa Xuân Virginia về lại quê nhà, cố gắng không nghĩ đến chuyện thời tiết khó chịu dễ làm ảnh hưởng đến tình yêu quê hương của mình. Tôi đã sống gần 60 năm ở đây có sao đâu mà bây giờ bày đặt so sánh chuyện-nóng-lạnh?
 
Ngồi một mình trong phòng, tôi lật từng trang album cũ, hy vọng tìm được những tấm ảnh trắng đen xa xưa lần đầu tiên mặc áo dài trắng của nữ sinh trung học đệ nhất cấp. Mấy hôm trước tôi đã gặp lại Đỗ Thị Châu, Lan Hương Trần, hai nhỏ bạn chí thân từ thuở học Gia Long. Bỗng nhiên tất cả quá khứ tươi đẹp hiện ra rõ nét như không phải chuyện của 50 năm qua. 
 
Đó là quãng thời gian bảy năm trung học rất đáng nhớ trong cuộc đời tôi. Dù phải mất hai năm thi đệ thất, tôi vẫn vui sướng vì được học trong ngôi trường mình yêu thích, trường Nữ Trung Học Gia Long-Sài Gòn. Vậy mà số phận không cho tôi theo hết 7 năm học tại đây, vì qua năm đệ tam tôi khăn gói lên học nội trú trường Nông Lâm Súc-Bảo Lộc. Một ngôi trường tráng lệ, nổi tiếng không thua kém ngôi trường Gia Long yêu dấu, cũng đã để lại trong tôi nhiều kỷ niệm khó quên. Thế nhưng những năm tháng tóc bom bê, áo dài trắng Gia Long mới là thời kỳ đẹp đẽ và đáng yêu nhất thời đi học của tôi. Nơi đây đã nuôi dưỡng tuổi hồn nhiên, vô tư nhìn đời bằng cặp mắt trong sáng của những cô bé “em ước mơ mơ gì tuổi 12 tuổi 13”.
 
Năm đầu tiên vào trường Gia Long, cảnh mới, lớp lạ, chưa quen biết ai nên tôi được xếp ngồi chung bàn với hai người:
 
Võ Thị Phụng: chị được cả lớp gọi bằng chị vì chị lớn tuổi. Tôi chỉ biết vậy thôi chứ có bao giờ hỏi tuổi chị đâu. Chị nghiêm chỉnh, nói năng từ tốn bằng chất giọng Nam kỳ mộc mạc. Chị Phụng không có gì đặc biệt, trong lớp chị ít nói, ít bạn, nhưng tôi thích chơi với chị vì... chị thích tôi. Chị thích luôn cái tên Võ Đậu Phụng do tôi đặt, và thường kêu to lên trong lớp. Những lúc đó chị chỉ cười hiền và nói: “cái con rắn mắt”. Chẳng biết nghĩa của chữ rắn mắt là gì nhưng tôi đoán đó là cách gọi trìu mến của người Long An, quê chị. Trong mắt chị, tôi là con nhỏ dễ thương đúng như câu: “Khi thương trái ấu cũng tròn”.
 
Nguyễn Lý Thúy Hà: cái tên hơi dài nhưng tôi vẫn gọi nó là Thúi Hà mà không bao giờ sợ bị giận. Thúy Hà là dân Bắc kỳ di cư, nhà ở trong xóm đạo Cư Xá Phú Lâm, xa vậy nhưng khoảng cách địa lý không ngăn cản tình bạn giữa nó và tôi. Thúy Hà thường đạp xe từ Phú Lâm về Gia Định thăm tôi đem theo khi bánh khi kẹo (nhà nó có tiệm bán tạp hóa), và tôi thỉnh thoảng cũng gồng mình đạp xe đến nhà nó. Có một lần tôi bị lạc ngay bùng binh cầu Nhị Thiên Đường, quẹo lộn ở ngã 5-6 gì gì vô tận Chợ Lớn. Hồi đó điện thoại đâu mà kêu người giúp đỡ, tôi cứ vừa đi vừa hỏi thăm đường, về tới nhà là may lắm rồi, không dám kể lại với ai. Thúy Hà sửa lưng tôi hoài vì tật hay quên, cầu Nhị Thiên Đường mà gọi thành cầu Khuynh Diệp. Ai đặt tên phiền quá, cũng là dầu gió thôi mà! 
 
Thúy Hà có bịnh sợ môn thể dục, tới giờ thể dục là mồ hôi nó ra đầy trán và tay chân ướt nhẹp thấy ghê. Thi thể dục lại càng ác mộng hơn nữa, nó chỉ thi được một môn duy nhất là môn chạy 100m. Nói chạy chứ thật ra là nó... đi bộ, và chấp nhận điểm 1. Những khi phải thi nhiều môn một lúc, cô giáo thường nhờ trưởng ban thể thao hoặc trưởng lớp theo dõi, ghi kết quả. Bạn bè thương hại Thúy Hà nên để tôi thi dùm mấy môn như leo dây, nhảy cao, nhảy xa, rồi ghi đại kết quả đủ cho nó khỏi bị thi lại. 
 
Ờ, mà sao nó đạp xe đến nhà tôi khỏe vậy ha??? 
 
Hai năm cuối đệ nhất cấp tôi chơi rất thân và ngồi chung bàn với hai nhân vật “chức sắc của lớp”, là vì nhỏ con hơn hai đứa kia nên tôi bị chèn ép ngồi giữa:
 
Lan Hương Trần: thông minh, học giỏi, tự tin, v..v... nói chung là hội đủ điều kiện để làm trưởng lớp. Nó được ưu tiên ngồi đầu bàn để thầy cô “tiện việc hỏi thăm sức khỏe”. Lan Hương Trần có tính nghệ sĩ và óc khôi hài mà phải ráng làm mặt nghiêm vì lỡ mang danh trưởng lớp. Nó học lè phè lắm nhưng nhờ thông minh, bản lãnh nên được giữ chức trưởng lớp mấy năm liền. Tôi thì nể con nhỏ Bắc kỳ này từ lâu rồi vì nó “đa-gi-năng”. Toán, Lý, Hóa nó làm như chớp, tiếng Anh đọc như gió, viết luận văn lưu loát, còn môn học bài dài cỡ nào cũng chẳng khiến nó bận tâm, thường thì nó vào lớp mới nhìn qua sách trong thời gian các bạn khác đang đứng trả bài. Nếu có bị thầy cô kêu tên nó cũng hiên ngang cầm vở đi lên, ngó thẳng xuống lớp và trả lời câu hỏi trơn tru, nhưng là nó... tự phóng tác theo kiểu hiểu gì nói nấy, vậy mà luôn được điểm cao mới lạ! 
 
Đỗ Thị Châu: là dân Sài Gòn chúa hờn mát, nó nhận chức trưởng ban trật tự do lớp bầu ra mà cũng chẳng hiểu lý do. Nó ỷ chân dài nên dành ngồi bìa cửa sổ, cái vị trí lẽ ra phải dành cho con nhỏ trưởng ban văn nghệ hay mơ mộng là tôi, còn nó, mơ mộng chỉ là trò xa xỉ.
 
Khác với Lan Hương Trần, học thuộc lòng là biệt tài của Đỗ Châu. Nó không bốc phét khi luôn miệng hùng hồn tuyên bố: “gạo bài là nghề của nàng, bài nào tao cũng cháo không sai một dấu chấm phết”. Quả thật, độ thuộc bài của nó đáng thách thức sự kiên nhẫn của thầy cô đến nỗi cô giáo môn vạn vật lớp đệ tứ không thèm kêu tên, một tháng mới cho nó trả bài một lần để có điểm trong sổ đầu bài rồi thôi. À, không vì thế mà nó lơ mấy môn cháo đâu, đối với nó, gạo bài là cả một sự say mê. Tôi cứ tưởng sau này nó sẽ theo ngành Y, không ngờ nó vào Đại Học Sư Phạm khoa Sinh. 
 
Khi bạn bè Gia Long của tôi hăm hở chọn ban vào lớp đệ tam, tôi chia tay tụi nó đi học nội trú trường Nông Lâm Súc-Bảo Lộc, tụi bạn nhỏ xúm lại hỏi: “Bồ theo học ban gì?” .“Canh nông”. Tụi nó trố mắt: “Là ban A, B hay C kìa?” Hả, tôi còn chẳng biết huống chi tụi nó! Ba năm học ở Bảo Lộc, Đỗ Châu là đứa siêng viết thư cho tôi nhất, nó thường gởi kèm hình, nói là để tôi đỡ nhớ bạn-nhớ lớp-nhớ trường. Tuy vậy tôi vẫn nhớ tụi nó lắm, có dịp về Sài Gòn là tôi lao ngay đến trường tìm đám bạn cũ. (Tôi còn giữ chiếc áo dài trắng với huy hiệu Gia Long thêu hoa mai vàng và chữ Tứ 1 to tướng nên chẳng ai nghi ngờ khi tôi dắt xe đạp vào cổng trường).
 
Lan Hương Vũ: là tay bơi số 1 của lớp, mỗi lần thi bơi Lan Hương Vũ đều về nhất khối lớp và trường. Lan Hương Vũ học khá giỏi, được vào đội tuyển bơi lội của trường mà không kênh kiệu. Nó có dáng cao ráo, nước da nâu của dân thể thao nhưng tâm hồn vô cùng trẻ thơ. Nó xuất thân từ một gia đình Bắc kỳ công chức nề nếp nên nói năng đàng hoàng. Những từ ngữ thời thượng trong truyện của Duyên Anh lúc bấy giờ rất xa lạ đối với nó, như: quê một cục, tuyệt cú mèo, bỏ đi tám, v..v... không bao giờ xuất hiện từ miệng của nó. Nó suy nghĩ đơn giản và hay mắc cỡ, khi được khen hay được chú ý là khuôn mặt nó đỏ bừng, miệng cười mỉm chi rất hiền. Nó thường ghé nhà tôi đợi đi học chung mỗi ngày, dù buổi sáng, trưa hay chiều, nó cứ để đầu trần mà đạp xe trong khi tôi, hết mũ rơm đến mũ vải. Nó thích bắt tôi kể đủ thứ chuyện cho nó nghe, làm như chuyện gì bên ngoài lớp cổng kín tường cao nhà nó cũng đều thú vị hấp dẫn cả.
 
Nguyễn Thị Mỹ Hạnh: Cô nàng Sài Gòn có nước da ngăm ngăm đen giống tôi, tóc cắt demi garcon nên nét mặt trông lém lỉnh. Năm nào Mỹ Hạnh cũng ngồi dãy bàn đầu nhờ vóc dáng nhỏ nhắn. Nó thường viết kịch bản kiêm luôn diễn viên trong các tiết mục hài kịch của lớp vào những dịp nghỉ Hè, Tất Niên. Nó diễn xuất rất hay và hóa trang rất tài làm cho cả lớp cười lăn. Nó say mê bài: “Comment ca va” và “let's twist again”, nên năm nào cũng yêu cầu tôi hát vài chục lần không chán, rồi cả đám kéo nhau ra giữa lớp, khom người lắc mông xoay gót, mấy đứa ngồi tại chỗ thì vỗ tay đập bàn ầm ĩ. Nó còn là tác giả viết mấy câu hài hước dán sau lưng áo của bạn, hoặc lén cột tà áo sau của 2 bạn ngồi cạnh nhau làm con người ta dở khóc dở cười. Cái ngôi thứ ba sau nhất quỷ nhì ma là vậy đó.
 
Trần Thị Đoan Trang: trắng trẻo, đẹp gái. Có lẽ đây là cô nàng điệu nhất trong đám bạn của tôi, điệu vậy chứ nó chơi bóng rỗ cừ lắm. Vào giờ thể dục năm lớp đệ tứ, chỉ có mình Đoan Trang mặc quần soóc trắng trong khi cả lớp vẫn phải mặc quần phồng xanh dương. Sau này thấy cô giáo không nói gì nên nhiều đứa bắt chước mặc soóc màu trắng và xanh dương, (miễn đừng đỏ, vàng, tím,... thôi). Diện quần soóc vào, dù chân không được dài nhưng tôi thấy mình ra dáng thể thao hơn khi mặc quần phồng gấp nhiều lần, cho nên cái quần phồng của tôi từ đó bị xếp vào ngăn tủ quá khứ, đồng thời cái áo tay phồng cổ lá sen cũng đi theo luôn cho đủ bộ. Không biết mấy lớp khác thế nào chứ lớp tôi, Đoan Trang đã làm một cuộc cách mạng quần soóc thành công. 
 
Càng lên lớp Đoan Trang càng học giỏi. Như tôi đã nói, đa số dân “Bắc kỳ rốn” lớp tôi đều học giỏi. Năm thi đại học, nó đậu luôn hai trường Đại Học Y Khoa và Đại Học Dược Khoa. Nó chọn học Y, một vài năm sau 1975 nó lấy chồng khi còn là sinh viên khiến nhiều chàng ngơ ngẩn.
 
Ngoài những người bạn thân thương, năm tôi học lớp đệ ngũ buổi chiều, tôi có thêm kỷ niệm với một người chị đặc biệt, học lớp đệ nhất buổi sáng. 
 
Chị Hộc Bàn: Tôi gọi chị hộc bàn bởi vì chị và tôi ngồi cùng chỗ, cùng phòng, chỉ khác giờ học. Chuyện là, có vài ngày sau Lễ Khai Giảng, tôi khá bất ngờ khi lôi trong hộc bàn của mình ra một túi ổi  kèm muối ớt, và một trang vở xếp đôi. “Chị gởi cưng quà làm quen. Chị ngồi chỗ này buổi sáng, bây giờ mình là chị em hộc bàn nha, mỗi ngày chị đều có quà cho cưng”. Đó là nội dung “bức tâm thư”. 
 
Trời đất ơi! Thuở nào giờ tôi mới biết có một mối liên hệ tên là chị-em-hộc-bàn. Nhưng không sao, chị gì cũng được miễn có ổi cóc xoài ăn đều đều là thích rồi, Lan Hương Trần và Đỗ Châu dĩ nhiên cũng được chia phần. Vậy mà Đỗ Châu luôn phân bì sao nó không có bà chị hộc bàn. “Ai biểu dành ngồi bìa chi bây giờ tiếc”, tôi thường vênh mặt chọc quê nó, nhưng khi nghe nó đãi giọng trả đũa: “cưng ơi” là tôi nổi da gà im ngay. Lan Hương Trần thì luôn chỉ một câu: “tụi bay làm gì vậy?”
 
Chị hộc bàn giữ đúng lời hứa, mỗi ngày trước khi tan trường đều không quên để vào hộc bàn túi quà vặt cho tôi, kèm thêm vài hàng gởi “cưng yêu quý”. Thật là sung sướng! Tôi luôn đáp lễ chị bằng thư cám ơn. Thật lòng mà nói, thư tôi viết rất thành thật, không phải ba xạo vì được cho cóc ổi me đâu. Tình cảm nẩy sinh giữa chị hộc bàn và tôi cứ tự nhiên mà tăng theo ngày tháng, thói quen vào lớp trước khi cho cặp vào hộc bàn tôi phải ngó xem có gì bên trong, hôm nào hộc bàn trống trơn là tôi cảm thấy buồn buồn, thế nào cũng viết một lá thư hỏi thăm chị. Tôi cũng không hiểu đây là loại tình cảm gì?
 
Thời gian qua nhanh, hết Tết rồi chuẩn bị Hè. Chị hộc bàn bận học trên lớp, không thường xuyên xuống câu lạc bộ mua quà vặt được. Tôi có lạ gì cái câu lạc bộ của con gái hay ăn hàng, giờ ra chơi là đông như kiến, muốn mua đồ ăn thì chuông reng phải chạy thật nhanh, hoặc trổ tài chen lấn mới không bị trễ. Chị bận học thì không sao rồi, tôi chỉ sợ nghe tin chị vào bịnh xá thôi (mùa thi mà!). Trường tôi có một cái bịnh xá ở cuối hành lang tầng trệt, rộng đủ kê 8-10 giường trải drap trắng đàng hoàng, dành cho những bịnh nhân cảm cúm, ngất xỉu, đau bụng v..v..., và không ít nàng giả bộ khai bịnh để trốn học. Suốt mấy năm học tôi chưa bao giờ vô đây, mà lớp tôi cũng may không có kiểu bịnh nhân này.
 
Một năm học nữa sắp kết thúc, chị hộc bàn không hỏi tên tôi, vậy mà chị đã viết thư từ giã rồi. Chị cũng quên không cho tôi biết tên của chị. Sau này tôi mới nghiệm ra: người lớn thật khó hiểu! Thôi thì tôi cứ là Cưng của chị, và tôi sẽ nhớ chị với cái tên Chị Hộc Bàn như ngày đầu chị làm quen. 
 
Kim Trâm
Tháng 7/2013
 
Cùng Tác Giả / Đề Tài